Những điểm mới trong Luật cư trú có hiệu lực từ 01-7-2021

Luật Cư trú sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01-7-2021, nhằm hướng dẫn thực hiện Luật Cư trú 2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2021/NĐ-CP ngày 29/6/2021 quy định một số điều Luật Cư trú và Bộ Công an ban hành Thông tư số 55/2021/TT-BCA ngày 15/5/2021 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành. Dưới đây là tổng hợp những điểm mới, đáng chú ý của Luật này được Công ty cổ phần Bến xe Huế trích lọc gửi đến bạn đọc, đối tác có nhu cầu sử dụng.

Ảnh sưu tầm.

Chính thức bỏ sổ hộ khẩu giấy, Sổ tạm trú

 

Theo đó, kề từ ngày 01/7/2021, chính thức bỏ Sổ hộ khẩu giấy, Sổ tạm trú.

Giảm thời gian giải quyết đăng ký thường trú

Do bỏ sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy nên thời gian giải quyết đăng ký thường trú sẽ nhanh hơn so với hiện nay. Cụ thể, khoản 3 Điều 22 Luật Cư trú 2020 quy định: Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm cập nhật thông tin về nơi thường trú mới của người đăng ký vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú; thông báo cho người đăng ký biết. Hiện nay, thời gian giải quyết thủ tục này đang quy định là 15 ngày (căn cứ khoản 3 Điều 21 Luật Cư trú 2006).  

Diện tích nhà thuê ít nhất 8m2/người mới được đăng ký thường trú

Công dân được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ nếu bảo đảm điều kiện về diện tích nhà ở tối thiểu không thấp hơn 8m2 sàn/người. Đồng thời, người này còn phải được chủ hộ, chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đồng ý cho đăng ký thường trú tại địa điểm thuê, mượn, ở nhờ.

Thêm nhiều trường hợp bị hạn chế cư trú

Mặc dù công dân có quyền tự do cư trú nhưng trong các trường hợp nêu tại khoản 2 Điều 4 Luật Cư trú sau đây, công dân sẽ bị hạn chế quyền này:

- Người bị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp tạm giữ, tạm giam.

- Người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định thi hành án nhưng đang tại ngoại hoặc được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án.

- Người bị kết án phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách.

 - Người đang chấp hành án phạt tù, cấm cư trú, quản chế hoặc cải tạo không giam giữ.

- Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang trong thời gian thử thách (mới).

- Người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng (mới).

- Người phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ chấp hành.

- Người bị quản lý trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng (mới).

- Người bị cách ly do có nguy cơ lây lan dịch bệnh cho cộng đồng (mới).

- Địa điểm, khu vực cách ly vì lý do phòng, chống dịch bệnh; địa bàn có tình trạng khẩn cấp; địa điểm không được đăng ký thường trú mới, đăng ký tạm trú mới, tách hộ (mới).

- Các trường hợp khác theo quy định của luật (mới).

Các trường hợp không được đăng ký thường trú mới

Nội dung này được quy định tại Điều 23 Luật Cư trú năm 2020. Cụ thể gồm:

- Nằm trong địa điểm cấm, khu vực cấm xây dựng hoặc lấn, chiếm hành lang bảo vệ quốc phòng, an ninh, giao thông, thủy lợi, đê điều, năng lượng, mốc giới bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật, di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng, khu vực đã được cảnh báo về nguy cơ lở đất, lũ quét, lũ ống....

- Toàn bộ diện tích nhà ở nằm trên đất lấn, chiếm trái phép hoặc chỗ ở xây dựng trên diện tích đất không đủ điều kiện xây dựng.

- Đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Là nhà ở mà một phần hoặc toàn bộ diện tích nhà ở đang có tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng nhưng chưa được giải quyết.

- Bị tịch thu theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; bị xóa đăng ký phương tiện hoặc không có giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường.

- Là nhà ở đã có quyết định phá dỡ.

Lưu trú dưới 30 ngày không cần đăng ký tạm trú

Quy định cũ tại khoản 2 Điều 30 Luật Cư trú nêu rõ, người đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa phương đó thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày đến phải đăng ký tạm trú tại công an xã, phường, thị trấn.

Trong khi đó, khoản 1 Điều 27 Luật Cư trú 2020 quy định: Công dân đến sinh sống tại chỗ ở hợp pháp ngoài phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đã đăng ký thường trú để lao động, học tập hoặc vì mục đích khác từ 30 ngày trở lên thì phải thực hiện đăng ký tạm trú.

Như vậy, quy định mới cho phép người dân đến và sinh sống tại một địa điểm ngoài địa điểm đã đăng ký thường trú từ 30 ngày trở lên mới phải đăng ký tạm trú.

Link Download toàn văn (định dạng .doc) Luật cư trú 2020, Nghị định 62/2021/NĐ-CP ngày 29/6/2021, Thông tư 55/2021/TT-BCA ngày 15/5/2021 đều có hiệu lực từ ngày 01/7/2021./.

Bình luận

Vui lòng chọn bộ phận cần hỗ trợ bên dưới. Chúng tôi sẽ phản hồi trong thời gian sớm nhất!
Hỗ trợ mua vé
Z 0854441080
Hỗ trợ vận tải
Z 088941080
Tìm kiếm câu trả lời ở Câu hỏi thường gặp